Posted by Henry @ 9:59 pm
Shelved under Nhật Ký

dsc04918.JPGVậy là 2 cái răng cửa của Henry mọc lên rồi.  Trông thật là ngộ phải không?  Răng Henry mọc cũng thẳng hàng lắm đấy nhưng mà phía trên nó không có bằng phẳng mà nó giống như cái răng cưa vậy.  Me tưởng là răng Henry có chuyện gì nên me dẫn Henry đi bác sĩ nha khoa.  Bác sĩ nói là răng Henry mới mọc nên nó vậy …mai mốt nó nó sẽ phẳng lại thôi.  Thế là hôm nay Henry không còn bị sún răng nữa và Henry có thể cười thỏai mái rồi ..heee heee

dsc04912.JPG  dsc04915.JPG

Posted by Henry @ 12:20 pm
Shelved under Nhật Ký, Tết

tet.JPG 

Posted by Henry @ 1:22 pm
Shelved under Nhật Ký

qua.jpgNgày Tết, cho dù ở thành thị hay thôn quê, giàu sang hay nghèo khó, trên bàn thờ tổ tiên hoặc trên bàn tiếp khách, hầu như nhà nào cũng trưng một mâm ngũ quả, và cố thể hiện sao cho vừa đẹp mắt vừa hàm ý những điều ước nguyện của gia chủ.
Gọi là ngũ quả nhưng thật ra chẳng ai rõ quy định là những loại quả gì mà tùy từng địa phương với đặc trưng về khí hậu, sản vật và quan niệm riêng mà người ta chọn ra các loại quả để “thiết kế” mâm ngũ quả. Tuy nhiên, dù là loại quả gì, mâm ngũ quả vẫn mang một ý nghĩa chung: dâng cúng tổ tiên thể hiện lòng hiếu thảo và ước mong những điều tốt lành trong gia sự. Mỗi loại quả đều có mùi vị, màu sắc riêng và cũng mang những ý nghĩa nhất định.

- Lê (hay mật phụ), ngọt thanh ngụ ý việc gì cũng trơn tru, suôn sẻ.

- Lựu, nhiều hạt, tượng trưng cho con đàn cháu đống.

- Đào thể hiện sự thăng tiến.

- Mai, do điển phiếu mai, con gái phải có chồng, hạnh phúc, không cô đơn.

- Phật thủ giống như bàn tay của Phật, chở che cho con người.

- Táo (loại trái to màu đỏ tươi) có nghĩa là phú quý.

- Hồng, quýt rực lên màu sắc mạnh mẽ, tượng trưng cho sự thành đạt.
- Thanh long - ý rồng mây gặp hội.

- Bưởi, dưa hấu: căng tròn, mát lành, hứa hẹn sự ngọt ngào, may mắn

- Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy nắng sương đọng thành quả ngọt và che chở, bảo bọc.

- Quả trứng gà có hình trái đào tiên - lộc trời.

- Dừa có âm tương tự như là “vừa”, có nghĩa là không thiếu.

- Sung gắn với biểu tượng sung mãn về sức khỏe hay tiền bạc.

- Đu đủ mang đến sự đầy đủ thịnh vượng.

- Xoài có âm na ná như là “xài”, để cầu mong cho tiêu xài không thiếu thốn.

07-t-281.jpgDo trái cây ngày càng nhiều, loại nào cũng ngon, bổ nên để thể hiện cao nhất lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, đồng thời cũng nhằm thể hiển tính trình bày mỹ thuật trong con mắt thẩm mỹ độc đáo của nhân dân, nên mâm ngũ quả ngày càng phong phú hơn, và người ta cũng không câu kệ cứng nhắc “ngũ quả” nữa mà có thể là bát, cửu, thập quả. Nhiều hơn, nhưng người ta vẫn gọi là “mâm ngũ quả” và, dù đựng trong đĩa cũng vẫn gọi theo xưa là “mâm”. Bởi đó là một “sản phẩm văn hóa” đã xác lập trong quá trình lịch sử lâu dài, được khuôn đúc theo quan niệm về “bộ ngũ hoàn hảo”.

Tùy theo quan niệm của từng vùng, miền, người ta sử dụng những loại quả có ý nghĩa riêng. Ví dụ mâm ngũ quả của người Bắc bao giờ cũng có nải chuối - thể hiện sự che chở của đất trời cho con người, nhưng người Nam thì lại cho rằng từ chuối - có âm giống từ “chúi”, thể hiện sự nguy khó, không ngẩng lên được nên không dùng. Hay người Nam cũng không trưng quả cam bởi câu “quýt làm cam chịu” nhưng mâm ngũ quả của người Bắc thì không thể thiếu quả cam với màu vỏ vàng tươi rói. Mâm ngũ quả của người Nam thường có các loại quả mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung (theo câu “cầu vừa đủ xài sung”), thêm “chân đế” là 3 trái thơm (dứa) thể hiện sự vững vàng. Trong khi với người Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày trên mâm ngũ quả, không kiêng cả quả ớt (cay đắng), miễn sao đẹp mắt và “hoành tráng” là được…

Chưng bày mâm ngũ quả trong những ngày thiêng liêng đầu năm đầu tháng mang ý nghĩa giữ gìn bản sắc văn hóa cội nguồn cực kỳ độc đáo của dân Việt ta. Vì vậy, những người trẻ, cho dù tin hay không tin về ý nghĩa của từng loại quả theo những quan niệm của người dân ở từng địa phương, cũng nên lưu tâm, tránh dùng hay tặng các loại quả mà người ta kiêng kẻo bị nghĩ oan, rằng ta cố tình đem điều xui xẻo đến cho họ.

Posted by Henry @ 11:34 am
Shelved under Tết

banh-chung.jpgCó từ thời vua Hùng thứ 6, bánh chưng song hành cùng lịch sử dân tộc và trở thành linh hồn ngày Tết ở Bắc Bộ. Trong mâm cỗ đón xuân ngày nay, những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn khiến ta nhớ đến sự tích bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa.

Bánh chưng được làm từ các nguyên liệu gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn và gói trong lá dong… Bánh được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Vua Hùng).

Những người từng trải qua Tết xưa (những năm 40-50 của thế kỷ trước) thường nhớ về Tết cổ truyền với những chiếc bánh chưng được chọn lựa cầu kỳ từ chiếc lá dong, hạt nếp cái hoa vàng, đỗ xanh cho tới lạt tre.

goibanhtet.jpgKhông khí ngày Tết bây giờ không còn thấy cảnh các bà các chị tất bật những ngày giáp Tết, nào rửa lá dong, nào ngâm gạo hay đãi đỗ, cảnh trẻ con mặt mũi háo hức ngồi xem bố mẹ gói bánh, cảnh già trẻ lớn bé ngồi trông nồi bánh chưng qua đêm, ngoài trời sương lạnh, buốt giá không át được không khí ấm nồng quanh bếp lửa hồng.

Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng là niềm hân hoan của ngày Tết sum họp, đoàn tụ. Những chiếc bánh đẹp, dày dặn, vuông thành sắc cạnh được dành riêng để bày bàn thờ cúng ông bà tổ tiên, bánh nhỏ gói riêng cho trẻ con như món quà đầu năm… Truyền thống vẫn còn đó, nhưng dường như không còn mấy nguyên vẹn, công cụ để nấu chín chiếc bánh chưng ngày nay có nơi, có chỗ bị thay thế bằng nồi áp suất hoặc lửa ga. Dù sao thì Tết đến, xuân về, hình ảnh những chiếc bánh chưng vẫn nhắc nhở mỗi người chúng ta về giá trị dân tộc truyền thống.

Thời nay, những nguyên liệu làm bánh chưng vẫn vậy: vẫn gạo nếp, đậu xanh, nhân thịt, lá dong. Bánh muốn ngon thì phải chuẩn bị nguyên liệu thật chu đáo, gạo ngâm đãi thật kỹ, đậu xanh đồ vừa chín tới, thịt có cả nạc, bì, mỡ, ướp đủ gia vị, gói xong phải luộc ngay bánh mới xanh. Để chiếc bánh vuông đẹp, “chín rền” thì lúc gói phải “đỗ trong gạo, gạo trong lá”, gói chặt tay, không cần ép mà bánh vẫn để được lâu, miếng bánh sau khi cắt nhân đỗ, thịt nạc luôn cân đối ở tất cả các phần. Tết cổ truyền và hình ảnh những chiếc bánh chưng xanh là nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc Việt.

07-t-268.jpgQua hình dáng chiếc bánh chưng, bánh dày, không thể không liên tưởng đến ý nghĩa của hai chữ “vuông tròn” trong ngôn ngữ ta. Phát xuất từ quan niệm nguyên thuỷ về sự sinh thành, tổ tiên ta đã khéo lựa chọn hai thứ phẩm vật tượng trưng dùng trong việc cúng lễ trời đất, ông bà đã nhắc đến tư tưởng hòa hợp của hai hình thể: “rỗng” và “đặc”, “vuông” và “tròn”. Tuy tương khắc nhau như “trời” và “đất”, “đàn ông” và “đàn bà”, chúng có thể và phải kết hợp với nhau theo lẽ “trời đất phát dục vạn vật” như lời dạy của thần nhân cho Lang Liêu. “Lẽ vuông tròn” đó nói lên sự tốt đẹp trong tình nghĩa vợ chồng và trong mối quan hệ như câu thơ của Nguyễn Du:
“Khuôn thiêng biết có vuông tròn hay chăng?”

hay câu:

“Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.

Bánh chưng gợi nhớ đến Tết hay Tết gợi nhớ đến việc gói bánh chưng. Có lẽ, sự hoà quyện đó đã trở thành một biểu trưng văn hoá của dân tộc Việt - Bánh chưng biểu trưng cho Tết. Vì thế, công việc chuẩn bị gói bánh chưng mỗi khi Tết đến đã là một phong tục đẹp trong văn hoá Việt Nam.

Posted by Henry @ 11:31 am
Shelved under Tết

heo.jpgSo với những con vật khác trong 12 con giáp, chẳng hạn như ngựa, voi, trâu, rồng… có lẽ heo là con vật ít có cơ hội được nói đến nhất trong lịch sử Việt Nam hơn cả. Tuy nhiên, chú heo vẫn là một trong các con giáp được nhắc đến sớm nhất.

Trong sự tích “Bánh chưng, bánh dày”, khi vua Hùng Vương muốn chọn người nối ngôi trong số các hoàng tử, ngài truyền cho các hoàng tử mỗi người làm một món ăn đặc sắc nhất tiến vua để ngài bình chọn. Trong các hoàng tử, có Lang Liêu là người con rất có hiếu nên chàng đã được Thần nhân ứng mộng dạy cho cáCh làm bánh dầy (tượng trưng cho trời), bánh chưng (tượng trưng cho đất).

Những chất liệu làm nên hai loại bánh này được xem như sự hài hòa giữa trời và đất, trong đó có thịt heo đóng vai trò quan trọng đem lại hương vị thơm ngon, quyến rũ cho bánh chưng. Nhờ cặp bánh độc nhất vô nhị này, Lang Liêu đã được vua Hùng chọn làm thái tử nối ngôi vua.

Giai thoại thứ hai, xét theo thứ tự thời gian, có liên quan đến chú heo. Đó là chiến thắng của danh tướng triều Trần, Trần Khát Chân đã giết được vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga trên sông Hải Triều (tức sông Luộc). Chuyện xảy ra vào đời mạt Trần, dưới thời vua Trần Nghệ Tông. Nghệ Tông là một ông vua nhu nhược, hôn ám, tin dùng quyền thần Hồ Qúy Ly khiến nhà Trần mau chóng suy yếu và diệt vong về tay Quý Ly.

Về phía Chiêm Thành, vua Po Binaswar, sử ta gọi là Chế Bồng Nga, là vị vua hùng tài nhất trong lịch sử nước Chiêm. Thấy nước Việt suy yếu Bồng Nga nhiều phen đem binh sang cướp phá. Có lần đã đốt phá cả kinh thành Thăng Long, khiến Trần Nghệ Tông phải chạy sang Bắc Ninh, mang vàng bạc châu báu chôn giấu ở núi Thiên xiện. Thời đó, các quân tường được sai đi chống quân Chiêm đều nơm nớp lo sợ, coi như có đi mà không có về.

Năm Kỷ Tị (1389), quân Chiêm lại sang đánh. Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông sai Trần Khát Chân làm Đô tướng thống lĩnh quân Long Tiệp đi đánh giặc. Lúc xuất quân, Khát Chân và Thượng hoàng đều khóc tiễn biệt. Quân ta xuất phát từ sông Lô (tức sông Hồng), gặp giặc ở Hoàng Giang. Thấy địa thế không thuận lợi để chống giặc, Khát Chân bèn lui quân về giữ tại sông Hải Triều.

Thủy quân Chiêm đóng ở bờ phía Nam, thủy và lục quân Việt đóng ở bờ sông phía Bắc. Chiều 24 tháng Giêng, tên đầu bếp của Chế Bồng Nga tên là Ba Lậu Kê dâng lên vua món giò heo hầm chưa được mềm. Vua ăn không ngon miệng, sai quân đánh Ba Lậu Kê 30 hèo. Sợ bị giết, đêm ấy đầu bếp Ba Lậu Kê thừa lúc tối trời đi thuyền nhỏ trốn sang trại quân Việt đầu hàng, khai báo binh tình của Chế Bồng Nga, chỉ vào chiến thuyền sơn xanh, cho biết đó là thuyền vua.

lon.jpgSáng 25, hai bên khai chiến. Khát Chân hạ lệnh cho quân sĩ nhất tề nã tên đạn vào thuyền Chế Bồng Nga, thuyền bị thủng ván và Bồng Nga trúng đạn chết. Trần Nguyên Diệu là tôn thất nhà Trần, trước đã hàng Chiêm Thành, bây giờ lại trở mặt, vội cắt lấy đầu Bồng Nga đem qua trại quân Việt dâng công. Gặp ngay tướng Phạm Nhữ Lặc vung kiếm giết luôn Nguyên Diệu, chiếm đầu Bồng Nga đem về báo tiệp.

Tướng Chiêm là La Khải thu góp tàn quân, về Chiêm Thành lên ngôi vua. Trần Khát Chân sai bỏ đầu giặc vào hòm, đi thuyền gấp về Bình Than báo tin với Trần Nghệ Tông. Xét ra chỉ vì một món giò heo hầm mà một ông vua kiêu hùng phải thiệt mạng, làm sụp đổ cả một ngai vàng!

Giai thoại thứ ba, là chuyện Trư vương (vua heo) làm mất nhà Lê. Cuối đời nhà Hậu Lê, do vua Lê Uy Mục hoang dâm, bạo ngược (sứ Trung Quốc đời nhà Minh gọi vua là Quỷ Vương), các tôn thất và công thần bị đánh đuổi, bắt bớ.

Tháng 12 năm Kỷ Tị (1509), trong số hàng thân bị hạ ngục có Giản Tu Công tên Oánh. Oánh đút vàng bạc cho cai ngục, vượt ngục trốn vào Thanh Hóa, rồi hội với các quan cựu thần đem binh ra đánh bắt được Uy Mục, phế xuống làm Mẫn Lệ Công, ép uống thuốc độc mà chết. Giản Tu tự lập làm vua, tức là Vua Lê Tương Dực, lấy niên hiệu là Hồng Thuận.

Lên tước vị rồi, Tương Dực tỏ ra còn chơi bời và xa xỉ tệ hại hơn cả Qủy Vương. Vì thế sứ nhà Minh sai Vũ Như Tô xây điện 100 nóc (Bách Sạn Điện) và xây Cửu Trùng đài. Từ đó loạn tặc nổi lên như ong. Các điềm tai dị xảy ra. Năm Quý Dậu (1513) có ba ngày lụt lội ở kinh thành. Gặp chuyện Nguyên quân công là Trịnh Duy Sản trước có công đi đánh giặc, sau do can vua nên bị Tương Dực đánh đòn oan. Duy Sản nổi giận, giả mượn tiếng đi dẹp giặc, đem quân vào cửa Bắc Thần giết vua. Tương Dực trị vì được 8 năm, thọ 24 tuổi, Duy Sản lập Quang Trị 8 tuổi làm vua, sau lại lập Lê Ỷ tức là vua Lê Chiêu Tông.

Những câu chuyện kể trên, theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, đều có liên quan đến chú heo, xem như các giai thoại thú vị được nhắc lại nhân dịp xuân Đinh Hợi, đồng thời để ôn lại một số giai đoạn thăng trần, hào hùng của lịch sử dân tộc.

-- Next »