Pages
*HUGS* TOTAL! Give Henry more *HUGS*
Get UR hugs
Categories
Meta
Sponsor
Archives
- September 2008
- September 2007
- July 2007
- June 2007
- May 2007
- March 2007
- February 2007
- January 2007
- December 2006
- November 2006
Có từ thời vua Hùng thứ 6, bánh chưng song hành cùng lịch sử dân tộc và trở thành linh hồn ngày Tết ở Bắc Bộ. Trong mâm cỗ đón xuân ngày nay, những chiếc bánh chưng xanh vuông vắn khiến ta nhớ đến sự tích bánh chưng, bánh dày tượng trưng cho quan niệm về vũ trụ của người Việt xưa.
Bánh chưng được làm từ các nguyên liệu gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn và gói trong lá dong… Bánh được làm vào các dịp Tết cổ truyền của dân tộc Việt và vào ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ tổ Vua Hùng).
Những người từng trải qua Tết xưa (những năm 40-50 của thế kỷ trước) thường nhớ về Tết cổ truyền với những chiếc bánh chưng được chọn lựa cầu kỳ từ chiếc lá dong, hạt nếp cái hoa vàng, đỗ xanh cho tới lạt tre.
Không khí ngày Tết bây giờ không còn thấy cảnh các bà các chị tất bật những ngày giáp Tết, nào rửa lá dong, nào ngâm gạo hay đãi đỗ, cảnh trẻ con mặt mũi háo hức ngồi xem bố mẹ gói bánh, cảnh già trẻ lớn bé ngồi trông nồi bánh chưng qua đêm, ngoài trời sương lạnh, buốt giá không át được không khí ấm nồng quanh bếp lửa hồng.
Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng là niềm hân hoan của ngày Tết sum họp, đoàn tụ. Những chiếc bánh đẹp, dày dặn, vuông thành sắc cạnh được dành riêng để bày bàn thờ cúng ông bà tổ tiên, bánh nhỏ gói riêng cho trẻ con như món quà đầu năm… Truyền thống vẫn còn đó, nhưng dường như không còn mấy nguyên vẹn, công cụ để nấu chín chiếc bánh chưng ngày nay có nơi, có chỗ bị thay thế bằng nồi áp suất hoặc lửa ga. Dù sao thì Tết đến, xuân về, hình ảnh những chiếc bánh chưng vẫn nhắc nhở mỗi người chúng ta về giá trị dân tộc truyền thống.
Thời nay, những nguyên liệu làm bánh chưng vẫn vậy: vẫn gạo nếp, đậu xanh, nhân thịt, lá dong. Bánh muốn ngon thì phải chuẩn bị nguyên liệu thật chu đáo, gạo ngâm đãi thật kỹ, đậu xanh đồ vừa chín tới, thịt có cả nạc, bì, mỡ, ướp đủ gia vị, gói xong phải luộc ngay bánh mới xanh. Để chiếc bánh vuông đẹp, “chín rền” thì lúc gói phải “đỗ trong gạo, gạo trong lá”, gói chặt tay, không cần ép mà bánh vẫn để được lâu, miếng bánh sau khi cắt nhân đỗ, thịt nạc luôn cân đối ở tất cả các phần. Tết cổ truyền và hình ảnh những chiếc bánh chưng xanh là nét đẹp truyền thống văn hoá dân tộc Việt.
Qua hình dáng chiếc bánh chưng, bánh dày, không thể không liên tưởng đến ý nghĩa của hai chữ “vuông tròn” trong ngôn ngữ ta. Phát xuất từ quan niệm nguyên thuỷ về sự sinh thành, tổ tiên ta đã khéo lựa chọn hai thứ phẩm vật tượng trưng dùng trong việc cúng lễ trời đất, ông bà đã nhắc đến tư tưởng hòa hợp của hai hình thể: “rỗng” và “đặc”, “vuông” và “tròn”. Tuy tương khắc nhau như “trời” và “đất”, “đàn ông” và “đàn bà”, chúng có thể và phải kết hợp với nhau theo lẽ “trời đất phát dục vạn vật” như lời dạy của thần nhân cho Lang Liêu. “Lẽ vuông tròn” đó nói lên sự tốt đẹp trong tình nghĩa vợ chồng và trong mối quan hệ như câu thơ của Nguyễn Du:
“Khuôn thiêng biết có vuông tròn hay chăng?”
hay câu:
“Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông”.
Bánh chưng gợi nhớ đến Tết hay Tết gợi nhớ đến việc gói bánh chưng. Có lẽ, sự hoà quyện đó đã trở thành một biểu trưng văn hoá của dân tộc Việt - Bánh chưng biểu trưng cho Tết. Vì thế, công việc chuẩn bị gói bánh chưng mỗi khi Tết đến đã là một phong tục đẹp trong văn hoá Việt Nam.
So với những con vật khác trong 12 con giáp, chẳng hạn như ngựa, voi, trâu, rồng… có lẽ heo là con vật ít có cơ hội được nói đến nhất trong lịch sử Việt Nam hơn cả. Tuy nhiên, chú heo vẫn là một trong các con giáp được nhắc đến sớm nhất.
Trong sự tích “Bánh chưng, bánh dày”, khi vua Hùng Vương muốn chọn người nối ngôi trong số các hoàng tử, ngài truyền cho các hoàng tử mỗi người làm một món ăn đặc sắc nhất tiến vua để ngài bình chọn. Trong các hoàng tử, có Lang Liêu là người con rất có hiếu nên chàng đã được Thần nhân ứng mộng dạy cho cáCh làm bánh dầy (tượng trưng cho trời), bánh chưng (tượng trưng cho đất).
Những chất liệu làm nên hai loại bánh này được xem như sự hài hòa giữa trời và đất, trong đó có thịt heo đóng vai trò quan trọng đem lại hương vị thơm ngon, quyến rũ cho bánh chưng. Nhờ cặp bánh độc nhất vô nhị này, Lang Liêu đã được vua Hùng chọn làm thái tử nối ngôi vua.
Giai thoại thứ hai, xét theo thứ tự thời gian, có liên quan đến chú heo. Đó là chiến thắng của danh tướng triều Trần, Trần Khát Chân đã giết được vua Chiêm Thành Chế Bồng Nga trên sông Hải Triều (tức sông Luộc). Chuyện xảy ra vào đời mạt Trần, dưới thời vua Trần Nghệ Tông. Nghệ Tông là một ông vua nhu nhược, hôn ám, tin dùng quyền thần Hồ Qúy Ly khiến nhà Trần mau chóng suy yếu và diệt vong về tay Quý Ly.
Về phía Chiêm Thành, vua Po Binaswar, sử ta gọi là Chế Bồng Nga, là vị vua hùng tài nhất trong lịch sử nước Chiêm. Thấy nước Việt suy yếu Bồng Nga nhiều phen đem binh sang cướp phá. Có lần đã đốt phá cả kinh thành Thăng Long, khiến Trần Nghệ Tông phải chạy sang Bắc Ninh, mang vàng bạc châu báu chôn giấu ở núi Thiên xiện. Thời đó, các quân tường được sai đi chống quân Chiêm đều nơm nớp lo sợ, coi như có đi mà không có về.
Năm Kỷ Tị (1389), quân Chiêm lại sang đánh. Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông sai Trần Khát Chân làm Đô tướng thống lĩnh quân Long Tiệp đi đánh giặc. Lúc xuất quân, Khát Chân và Thượng hoàng đều khóc tiễn biệt. Quân ta xuất phát từ sông Lô (tức sông Hồng), gặp giặc ở Hoàng Giang. Thấy địa thế không thuận lợi để chống giặc, Khát Chân bèn lui quân về giữ tại sông Hải Triều.
Thủy quân Chiêm đóng ở bờ phía Nam, thủy và lục quân Việt đóng ở bờ sông phía Bắc. Chiều 24 tháng Giêng, tên đầu bếp của Chế Bồng Nga tên là Ba Lậu Kê dâng lên vua món giò heo hầm chưa được mềm. Vua ăn không ngon miệng, sai quân đánh Ba Lậu Kê 30 hèo. Sợ bị giết, đêm ấy đầu bếp Ba Lậu Kê thừa lúc tối trời đi thuyền nhỏ trốn sang trại quân Việt đầu hàng, khai báo binh tình của Chế Bồng Nga, chỉ vào chiến thuyền sơn xanh, cho biết đó là thuyền vua.
Sáng 25, hai bên khai chiến. Khát Chân hạ lệnh cho quân sĩ nhất tề nã tên đạn vào thuyền Chế Bồng Nga, thuyền bị thủng ván và Bồng Nga trúng đạn chết. Trần Nguyên Diệu là tôn thất nhà Trần, trước đã hàng Chiêm Thành, bây giờ lại trở mặt, vội cắt lấy đầu Bồng Nga đem qua trại quân Việt dâng công. Gặp ngay tướng Phạm Nhữ Lặc vung kiếm giết luôn Nguyên Diệu, chiếm đầu Bồng Nga đem về báo tiệp.
Tướng Chiêm là La Khải thu góp tàn quân, về Chiêm Thành lên ngôi vua. Trần Khát Chân sai bỏ đầu giặc vào hòm, đi thuyền gấp về Bình Than báo tin với Trần Nghệ Tông. Xét ra chỉ vì một món giò heo hầm mà một ông vua kiêu hùng phải thiệt mạng, làm sụp đổ cả một ngai vàng!
Giai thoại thứ ba, là chuyện Trư vương (vua heo) làm mất nhà Lê. Cuối đời nhà Hậu Lê, do vua Lê Uy Mục hoang dâm, bạo ngược (sứ Trung Quốc đời nhà Minh gọi vua là Quỷ Vương), các tôn thất và công thần bị đánh đuổi, bắt bớ.
Tháng 12 năm Kỷ Tị (1509), trong số hàng thân bị hạ ngục có Giản Tu Công tên Oánh. Oánh đút vàng bạc cho cai ngục, vượt ngục trốn vào Thanh Hóa, rồi hội với các quan cựu thần đem binh ra đánh bắt được Uy Mục, phế xuống làm Mẫn Lệ Công, ép uống thuốc độc mà chết. Giản Tu tự lập làm vua, tức là Vua Lê Tương Dực, lấy niên hiệu là Hồng Thuận.
Lên tước vị rồi, Tương Dực tỏ ra còn chơi bời và xa xỉ tệ hại hơn cả Qủy Vương. Vì thế sứ nhà Minh sai Vũ Như Tô xây điện 100 nóc (Bách Sạn Điện) và xây Cửu Trùng đài. Từ đó loạn tặc nổi lên như ong. Các điềm tai dị xảy ra. Năm Quý Dậu (1513) có ba ngày lụt lội ở kinh thành. Gặp chuyện Nguyên quân công là Trịnh Duy Sản trước có công đi đánh giặc, sau do can vua nên bị Tương Dực đánh đòn oan. Duy Sản nổi giận, giả mượn tiếng đi dẹp giặc, đem quân vào cửa Bắc Thần giết vua. Tương Dực trị vì được 8 năm, thọ 24 tuổi, Duy Sản lập Quang Trị 8 tuổi làm vua, sau lại lập Lê Ỷ tức là vua Lê Chiêu Tông.
Những câu chuyện kể trên, theo nghĩa đen hoặc nghĩa bóng, đều có liên quan đến chú heo, xem như các giai thoại thú vị được nhắc lại nhân dịp xuân Đinh Hợi, đồng thời để ôn lại một số giai đoạn thăng trần, hào hùng của lịch sử dân tộc.
Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong các lễ hội truyền thống Việt Nam từ hàng ngàn đời nay, là điểm giao thời giữa năm cũ và năm mới; giữa một chu kỳ vận hành của đất trời, vạn vật cỏ cây.
Tết nguyên đán Việt Nam từ buổi “khai thiên lập địa” đã tiềm tàng những giá trị nhân văn thể hiện mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, vũ trụ qua bốn mùa xuân – hạ - thu - đông… Đó là những ngày khởi đầu một năm âm lịch mới mà mỗi năm cầm tinh một con vật trong 12 con giáp theo chu kỳ.
Cũng như mọi ngày, nhưng ngày Tết đối với người Việt Nam rất linh thiêng, dù trải qua bao nhiêu giai đoạn khác nhau, ít nhiều phong tục Tết có thay đổi, từ vấn đề kiêng cữ, tập tục cho đến sinh hoạt, ăn uống, sắm Tết đều có những nét Việt rất riêng. Tết Việt Nam mang đậm nét tâm linh, đoàn tụ và gần gũi nên dù cho cuộc sống có thay đổi, phát triển đến mức độ như thế nào, Tết là dịp để mọi người Việt Nam dù ở bất cứ phương trời nào đều dành thời gian tưởng nhớ, tri ân tổ tiên, nguồn cội; giao cảm nhân sinh trong quan hệ đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” và tình nghĩa bà con, xóm giềng…
Ngày Tết của dân tộc Việt Nam có nhiều những “thuần phong” đáng được duy trì và phát triển như khai bút, khai danh, hái lộc, chúc Tết, du xuân, mừng thọ…
Tục tiễn Ông Táo về trời
Ông Táo hay Thần Bếp là người mục kích việc làm ăn của mọi nhà. Theo tập tục hàng năm, ông Táo phải thu xếp về trời vào ngày 23 tháng chạp để tâu bày mọi việc dưới trần thế với Ngọc hoàng. Ngày ông Táo về trời được coi như ngày đầu tiên của Tết nguyên đán. Sau khi tiễn đưa ông Táo về trời, người ta bắt đầu dọn dẹp nhà cửa, lau chùi đồ cúng ông bà tổ tiên, treo tranh, câu đối và cắm hoa ở những nơi trang trọng để đón Tết.
Bàn thờ tổ tiên
Tết trên bàn thờ tổ tiên của mỗi gia đình, ngoài các thứ bánh trái đều không thể thiếu mâm ngũ quả. Mâm ngũ quả ở miền Bắc thường có nải chuối xanh, bưởi, cam, quýt, hoặc hồng, quất. Còn ở miền Nam, mâm ngũ quả là dừa xiêm, mãng cầu, đu đủ, xoài xanh, nhành sung… Ngũ quả là lộc của trời, tượng trưng cho ý niệm khát khao của con người vì sự đầy đủ, sung túc.
Cách sắp xếp bàn thờ, cách định hướng hay việc quyết định thờ cái gì tất cả đều ở tâm hướng thiện. Người Việt Nam mong muốn hướng tới cuộc sống tốt lành, thịnh vượng và bày tỏ sự thành kính của người sống với người đã khuất. Đó là vẻ đẹp văn hoá thấm đẫm chất nhân văn của con người Việt Nam.
Cành đào, cây mai
Cùng với tranh dân gian, cây cảnh là yếu tố tinh thần cao quý và thanh khiết của người Việt Nam trong những ngày đầu xuân. Miền Bắc có hoa đào, miền Nam có hoa mai. Cành đào và cây mai tượng trưng cho phước lộc đầu xuân của mọi gia đình Việt Nam. Ngoài cành đào, cây mai, người ta còn “chơi” thêm cây Quất chi chín vàng mọng đặt ở phòng khách như biểu tượng cho sự sung mãn, may mắn, hạnh phúc.
Lễ trừ tịch (Lễ giao thừa)
Trừ tịch là giờ phút cuối cùng của năm cũ và khởi đầu của năm mới. Người dân Việt Nam theo cổ lệ làm lễ Trừ tịch với ý nghĩa đem bỏ hết những gì xấu xa trong năm cũ (còn gọi là lễ “khu trừ ma quỷ”) và đón nhận những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ Trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn gọi là Lễ Giao thừa. Lễ Giao thừa được cúng ở ngoài trời.
Các cụ ta tin rằng mỗi năm có một ông hành khiển coi việc nhân gian, trong lúc bàn giao công việc vào lúc giao thừa quan quân sẽ không kịp ăn uống gì nên đặt đồ cúng lễ ngoài trời với lòng thành tiễn đưa người nhà trời cai quản năm cũ và đón người nhà trời xuống hạ giới cai quản năm mới.
“Tống cựu nghênh tân”
Cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, trang trí bàn thờ. Con cháu trong nhà từ giờ phút giao thừa trở đi được nhắc nhở kiêng không được cãi cọ, nghịch ngợm… anh chị, cha mẹ không quở mắng, tra phạt con em. Ai nấy đều tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở, chúc nhau những điều tốt lành nhất.
Hái lộc, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi
Ai ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khoẻ, thành đạt hơn năm cũ. Nhiều nhà rủ nhau đi hái lộc ở đình, chùa. Gia chủ tự xông nhà hay dặn trước người “nhẹ vía” mà mình muốn đến xông nhà. Sau giao thừa có tục mừng tuổi Tết.
Trước hết, con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cũng mừng tuổi con cháu và họ hàng thân thích, bà con láng giềng. Mọi người chúc nhau bằng những lời chúc sức khoẻ, phát tài phát lộc. Những người năm cũ gặp rủi ro thì chúc “tai qua nạn khỏi” hay “của đi thay người”, trong hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kiêng cữ nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.
Khai nghề
Cũng như xa xưa, vào dịp đầu xuân là người có chức tước khai ấn, học trò, sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, người buôn bán mở hàng lấy ngày. Sĩ, Công, Nông, Thương của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hành thông, làm ăn suôn sẻ. Ngày nay, sau ngày mùng Một, dù có mải vui tết nhưng bà con làm ăn buôn bán ai cũng chọn ngày “Mở hàng” để tiếp tục một năm mới cần cù, chịu thương, chịu khó như bản chất của người Việt Nam.
Việt Nam ta với nhiều nét truyền thống mang đậm đà bản sắc dân tộc từ hàng ngàn năm: chiếc áo tứ thân, nón quai thao dịu dàng, thướt tha của những cô gái Bắc, áo Bà Ba mộc mạc, giản dị của những cô gái Nam, những làn điệu dân ca, quan họ ngọt ngào, sâu lắng của ba miền.
Bên cạnh đó những làng nghề cũng góp phần tạo nên một hồn Việt rất riêng. Mỗi dịp Tết đến, một làng nghề nổi tiếng về tranh Đông Hồ lại nhộn nhịp tạo nên những bức tranh treo với đủ màu sắc đón chào xuân mới, đó là làng tranh Đông Hồ – hay còn gọi là làng Hồ.
Làng Hồ xưa còn gọi là làng Mái, nằm trên bờ nam sông Đuống, thuộc xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh cách Hà Nội chừng 35 km. Làng Hồ không chỉ thu hút khách du lịch đến đây để mua tranh mà còn tham gia vào những hoạt động vui chơi truyền thống. Riêng tranh Đông Hồ của Làng Hồ – tên đầy đủ là tranh khắc gỗ của dân gian Đông Hồ – là một dòng tranh dân gian Việt Nam phục vụ chủ yếu cho dịp Tết Nguyên Đán.
Chủ đề tranh Đông Hồ chính là tình yêu quê hương, đất nước… với những nội dung mang tính chúc tụng như: tranh Vinh hoa – phú quý, Nghi xuân, gà đàn. Tranh sinh hoạt: đánh ghen, chăn trâu thổi sáo, nhà nông… Tuy nhiên nổi tiếng nhất là tranh gà, tranh lợn. Vì một điều rất dễ hiểu đây là những con vật rất gần gũi với mỗi gia đình Việt Nam.
Riêng đối với hình ảnh lợn trong tranh Đông Hồ, một con vật gắn liền trong nếp sống của những người nông dân chất phát. Lợn mang một ý nghĩa rất riêng: thể hiện sự sung túc, thịnh vượng, một năm mới phát tài phát lộc. Vì vậy khi khắc họa trên tranh cũng mang những sắc thái tươi vui và dí dỏm như những người bạn, người thân trong gia đình.
Bức “lợn ăn lá dày” đẹp và rực rỡ, dốc sự cách điệu lạ mắt: khoáy tròn âm dương trên lưng. Người thợ vẽ với tâm hồn người nghệ sĩ đã nhìn những xoáy lông trên mình lợn thành cái khoáy âm dương của triết học cổ. Rồi bức Đàn lợn mẹ con toát lên cái hồn của làng quê bình dị và thân thiết, để những người con đất Việt dù đi đâu xa vẫn nhớ về nơi “chôn nhau cắt rốn” của mình.
Lợn không chỉ được nhắc đến trong tranh Đông Hồ mà lợn còn được thể hiện ở nhiều hình thức khác như: hình ảnh một con lợn đất để bỏ tiền tiết kiệm, đó được xem là thói quen dung dị của trẻ em và người phụ nữ Việt Nam. Nó thể hiện đức tính cần kiệm của người nông dân chân chất, hiền hoà.
Mặt khác, lợn còn đi vào trong thơ, văn. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm lại có hai câu thơ: Tranh Đông Hồ, gà lợn nét tươi trong /Màu dân tộc sáng bừng trên giấy. Người nông dân ngày xưa mua tranh về dán trên tường như một lời chúc phúc cho một năm mới hạnh phúc và thịnh vượng.
Bên những cành đào, cành mai tượng trưng cho ngày Tết thì tranh Đông Hồ làm cho không khí Tết thêm phần ấm cúng. Vẻ đẹp trong tranh Đông Hồ là một vẻ đẹp khoẻ khoắn vui tươi, còn ít nhiều ngây ngô, chất phác nhưng vẫn bộc lộ một nét duyên đằm thắm. Con người Việt Nam đặc biệt là người dân xứ Bắc có thể tự hào về những gì họ đã làm được trong quá khứ và hiện tại, sự gìn giữ nét đẹp truyền thống đáng trân trọng qua nhiều thế hệ.
Một vài bức tranh Đông Hồ bên cạnh mâm ngũ quả ngày Tết sẽ là món quà mà các bà, các chị không thể quên khi đi chợ trong những ngày áp Tết. Đó còn là thói quen, là tâm linh, tín ngưỡng gắn kết trong mỗi tâm hồn người Việt Nam.
-- Next »
